Hồ Tà Đùng trước hết là hồ chứa của thủy điện Đồng Nai 3: nó giữ nước để phát điện và điều tiết dòng chảy cho sông Đồng Nai phía hạ lưu. Với người sống quanh hồ, mặt nước này còn là nơi đánh bắt và nuôi cá, là con đường thủy chở người và nông sản giữa các thôn, đảo, và trong những năm gần đây là nơi làm du lịch: chở thuyền, cho thuê chỗ cắm trại, nấu cá cho khách.
Người đến chơi thường chỉ thấy cảnh. Hiểu thêm hồ đang "làm việc" gì giúp anh chị nhìn những thứ bắt gặp trên hồ với con mắt khác: một chiếc thuyền chở bao cà phê, một dãy phao lưới, một vùng nước có quy định riêng. Bài này đi qua từng chức năng của hồ, từ lớn tới nhỏ, và chỗ mỗi chức năng chạm vào trải nghiệm của khách.
Giữ nước để phát điện
Chức năng đầu tiên, lý do hồ tồn tại, là tích nước để chạy tua bin. Nước giữ trong hồ có độ cao lớn so với nhà máy; khi được dẫn xuống qua đường ống, sức nước làm quay tua bin và sinh ra điện. Thủy điện Đồng Nai 3 có công suất thiết kế 180 MW theo công bố, hoà vào hệ thống điện quốc gia.
Hồ lớn có lợi ở chỗ tích được nhiều nước vào mùa mưa để dùng dần trong mùa khô, khi dòng sông tự nhiên cạn. Đó cũng là lý do mực nước hồ hạ dần trong mùa khô và đầy lại vào mùa mưa. Lịch tích và xả nước tuân theo quy trình vận hành do cơ quan nhà nước phê duyệt, có tính tới nhu cầu điện, nước cho hạ du và an toàn công trình.
Với khách, chức năng này hiện diện qua những điều đã nói ở các bài khác: mực nước thay đổi, vùng cấm gần đập, các thông báo vận hành trong mùa mưa. Không cần hiểu kỹ thuật, chỉ cần nhớ rằng mặt nước mình đang chơi là một phần của một công trình đang chạy.
Điều tiết nước cho sông phía dưới
Một hồ chứa lớn ở thượng nguồn giống như một cái bể điều hoà cho cả dòng sông. Mùa mưa, hồ giữ lại một phần nước lũ, giảm bớt lượng nước dồn xuống hạ lưu trong cùng lúc. Mùa khô, nước xả ra để phát điện cũng đồng thời bổ sung dòng chảy cho sông phía dưới, nơi có các nhà máy khác, các vùng tưới tiêu và dân cư.
Sông Đồng Nai chảy xuống phía nam qua nhiều vùng, cuối cùng góp nước cho cả vùng Đông Nam Bộ. Hồ Tà Đùng chỉ là một mắt xích ở phía trên, nhưng vì là hồ lớn nên vai trò điều tiết của nó đáng kể. Cách các hồ trên cùng dòng sông phối hợp vận hành là chuyện của quy trình liên hồ chứa, được quy định riêng.
Điều này nhắc một chi tiết người đi chơi ít nghĩ tới: nước hồ Tà Đùng không đứng yên mãi ở đó. Nó chảy qua nhà máy, xuống sông, đi qua nhiều tỉnh. Thứ gì rơi xuống hồ, từ chai nhựa tới dầu máy, đều có thể theo dòng nước đi xa.
Nơi đánh bắt và nuôi cá
Từ khi có hồ, nghề cá trở thành sinh kế của nhiều hộ ven hồ. Người ta đánh bắt bằng lưới, câu, đặt lờ ở các vũng và nhánh hồ; một số hộ nuôi cá trong lồng bè hoặc khoanh vùng nuôi ở những chỗ nước lặng. Cá đánh được bán cho thương lái, cho các quán ăn, cơ sở lưu trú quanh vùng và cho chính khách đến chơi.
Trên hồ, anh chị sẽ thấy dấu vết của nghề này: dãy phao đánh dấu lưới, những chiếc thuyền nhỏ đậu ở góc vịnh từ sáng sớm, lồng bè neo gần bờ. Đó là tài sản và công việc của người khác. Thuyền khách nên đi chậm, tránh xa lưới và lồng, không tự ý kéo phao, không câu sát lồng nuôi của người ta.
Việc khai thác thủy sản trên hồ cũng có quy định: cấm các phương tiện tận diệt như kích điện, chất nổ, hoá chất, lưới mắt quá nhỏ. Khách đi câu giải trí không phải lo nhiều về chuyện này, nhưng nếu thấy ai dùng cách đánh bắt tận diệt, nên báo chính quyền xã. Mục câu cá và cá hồ có bài riêng về chuyện này.
Con đường thủy giữa các thôn và đảo
Khi thung lũng ngập, nhiều lối đi cũ bị cắt, và mặt hồ trở thành đường đi tắt. Thuyền máy nhỏ chở người đi rẫy bên kia nước, chở phân bón, vật liệu ra các đảo có vườn, chở nông sản về bến để xe tải lấy hàng. Với một số hộ có rẫy trên đảo hoặc ở bờ bên kia, thuyền là phương tiện đi lại hằng ngày như xe máy ở đất liền.
Mùa thu hoạch cà phê, có lúc anh chị sẽ thấy những chiếc thuyền chở đầy bao lướt qua. Mùa mưa, thuyền chở người tránh những đoạn đường đất trơn trượt. Những bến thuyền mộc mạc mà khách dùng để xuống hồ phần lớn có gốc từ những bến đi lại như thế.
Phương tiện thủy chở người và hàng trên hồ về nguyên tắc phải đăng ký, đăng kiểm và người lái phải đủ điều kiện theo quy định về giao thông đường thủy nội địa. Khi đi thuyền dịch vụ, khách có quyền hỏi về áo phao và tình trạng thuyền; mục đi thuyền ra đảo và mục dịch vụ ven hồ nói kỹ phần này.
Nước cho rẫy và chăn thả ven hồ
Ở một số nơi, người dân dùng nước hồ cho việc đồng áng: bơm nước tưới rẫy gần mép nước trong mùa khô, cho trâu bò uống. Vành đai đất lộ ra khi nước rút mùa khô mọc cỏ, trở thành bãi chăn thả tự nhiên; anh chị có thể thấy trâu bò gặm cỏ sát mép nước vào những tháng hồ cạn.
Việc lấy nước từ hồ chứa và sử dụng đất ở vùng bán ngập đều có quy định quản lý riêng, nhất là trong hành lang bảo vệ hồ. Đây là chuyện giữa người dân và chính quyền, không phải chuyện của khách. Nhưng biết điều này giúp anh chị hiểu vì sao một bãi cỏ ven hồ trông như đất trống lại thực ra là chỗ người ta đang dùng.
Lời khuyên đơn giản: khi đi qua bãi chăn thả, đi vòng, không xua đuổi gia súc, không để chó đi cùng chạy rông. Khi thấy đường ống, máy bơm ven bờ, không đụng vào, không buộc thuyền vào đó.
Du lịch: chức năng mới nhất
Du lịch tới hồ Tà Đùng muộn hơn các chức năng khác, khi những bức ảnh hồ nhiều đảo lan rộng và đường vào vùng hồ thuận tiện hơn. Từ đó các dịch vụ dần hình thành: chở thuyền ngắm đảo, cho thuê chỗ cắm trại, nhà nghỉ và homestay trên đồi, nấu cá hồ cho khách, cho thuê ván chèo và thuyền kayak ở một số nơi.
Nhiều người làm du lịch ở đây chính là người làm nghề cá, nghề rẫy kiêm thêm. Thuyền chở khách buổi sáng có thể chính là thuyền đi rẫy buổi chiều. Chính vì vậy dịch vụ còn mộc, không phải lúc nào cũng có sẵn, và cần hẹn trước.
Chức năng du lịch cũng đặt ra câu hỏi mới cho hồ: làm sao để khách đến nhiều mà mặt nước vẫn sạch, người làm nghề cá vẫn làm được, rừng ven hồ vẫn còn. Câu trả lời một phần nằm ở chính khách. Nơi ở sát hồ có thể xem thêm ở tadungvilla.com; các mục còn lại của trang này nói về việc chơi với hồ cho đúng cách.
Khi các chức năng va chạm nhau
Một mặt nước gánh nhiều việc thì có lúc các việc va chạm. Khi hồ hạ thấp vào mùa khô để phát điện, lồng bè nuôi cá có thể phải dời ra chỗ sâu hơn, bến thuyền phải dời xuống, đường chở nông sản dài thêm. Khi hồ lên nhanh vào mùa mưa, bãi chăn thả ngập, lưới đặt ở mép bờ có thể bị cuốn.
Du lịch thêm vào một lớp va chạm mới. Thuyền khách chạy nhanh gây sóng làm động lưới, khách cắm trại ồn ào ban đêm ở gần nhà dân, rác của khách trôi vào lồng bè. Ngược lại, người làm nghề cá đi thuyền sớm, đặt lưới ở những vịnh đẹp mà khách muốn chèo vào.
Không có cách giải quyết nào hoàn hảo, nhưng những va chạm nhỏ có thể giảm rất nhiều nếu mỗi bên hiểu bên kia. Với khách, hiểu rằng mặt nước mình đang chơi cũng là nơi làm ăn của người khác đã là một nửa câu trả lời; nửa còn lại là đi chậm, nói nhỏ và hỏi trước.
Một năm trên mặt nước của người làm nghề
Với người sống bằng hồ, một năm có nhịp riêng. Mùa mưa, nước lên, cá theo nước vào những vùng mới ngập ven bờ, người đánh bắt đặt lưới, đặt lờ ở các vũng và nhánh hồ. Cũng là mùa có giông, nhiều hôm phải nghỉ thuyền.
Cuối mùa mưa sang đầu mùa khô, cũng là mùa thu hoạch cà phê ở Tây Nguyên, thường từ khoảng tháng 10 tới tháng 1, thuyền bận rộn chở người đi hái và chở bao về bến. Mùa khô hồ hạ, việc đi lại bằng thuyền khó hơn ở các nhánh cạn, bến xa hơn, nhưng trời trong, gió nhẹ hơn, cũng là lúc khách du lịch lên nhiều.
Cuối tuần và các kỳ nghỉ, một số người làm nghề cá chuyển sang chở khách, nấu cá. Biết nhịp này, anh chị sẽ hiểu vì sao có lúc thuê thuyền dễ, có lúc khó, vì sao giá cá ở bến lúc rẻ lúc đắt, và vì sao người lái có thể hẹn giờ rất sớm hoặc rất muộn.
Khách nên để ý gì khi gặp những chức năng này
Thấy phao lưới, lồng bè. Đi vòng xa, giảm tốc, không câu sát lồng, không chạm vào phao. Đó là tài sản và công việc của người khác. Một vết chân vịt cắt đứt dây lưới có thể làm người ta mất cả mẻ cá của một đêm.
Thấy thuyền chở hàng, chở người. Nhường đường, đi chậm khi qua gần để sóng không làm chòng chành thuyền nhỏ. Thuyền chở nặng nông sản nổi thấp, một con sóng lớn cũng đủ làm nước tràn vào.
Gần khu đập, cửa lấy nước. Không đi tới, không câu cá, không bơi. Đây là vùng bảo vệ công trình.
Mùa mưa có thông báo xả lũ. Theo dõi qua chính quyền địa phương hoặc nơi lưu trú, hạn chế ra mặt nước những ngày đó.
Bãi cỏ ven hồ có gia súc. Đi vòng, giữ chó, không xua đuổi. Bãi đó là nơi người ta đang chăn thả.
Câu hỏi thường gặp
Hồ Tà Đùng có tác dụng gì?
Hồ là hồ chứa của thủy điện Đồng Nai 3, dùng để phát điện và điều tiết dòng chảy cho sông Đồng Nai phía hạ lưu. Người ven hồ còn dùng mặt nước để đánh bắt, nuôi cá, đi lại bằng thuyền, và làm du lịch.
Thủy điện Đồng Nai 3 phát điện bao nhiêu?
Theo công bố, nhà máy có công suất thiết kế 180 MW. Sản lượng điện mỗi năm phụ thuộc vào lượng nước và cách vận hành, nên thay đổi theo năm; con số cụ thể nên tra nguồn của đơn vị vận hành.
Người dân quanh hồ Tà Đùng sống bằng nghề gì?
Phần lớn sống bằng rẫy cà phê, hồ tiêu, cây ăn trái; một phần làm nghề cá, nuôi cá, chở thuyền. Gần đây nhiều hộ làm thêm dịch vụ du lịch như chở khách, cho cắm trại, nấu ăn.
Có được câu cá ở hồ Tà Đùng không?
Câu cá giải trí bằng cần ở các khúc hồ xa công trình là chuyện bình thường. Không câu gần đập, không câu sát lồng nuôi của người dân, và tuyệt đối không dùng kích điện, hoá chất hay lưới tận diệt.
Vì sao thấy nhiều phao trên mặt hồ Tà Đùng?
Phao thường đánh dấu lưới đánh cá hoặc lồng bè nuôi cá của người dân ven hồ. Thuyền khách nên đi chậm, tránh xa, không chạm vào hay kéo phao.
Nước hồ Tà Đùng chảy đi đâu?
Nước qua nhà máy Đồng Nai 3 rồi tiếp tục theo sông Đồng Nai chảy xuống phía nam, qua nhiều vùng trước khi ra biển. Rác và chất thải rơi xuống hồ cũng có thể theo dòng nước đi xa.