Hồ Tà Đùng nằm trên đoạn thượng nguồn của sông Đồng Nai. Nước trong hồ đến từ dòng chính sông Đồng Nai, vốn bắt nguồn từ vùng cao nguyên Lâm Viên phía Đà Lạt, cộng với rất nhiều suối rừng đổ trực tiếp vào hồ. Sau khi qua nhà máy Đồng Nai 3, nước tiếp tục chảy xuống phía nam, qua vùng Cát Tiên, hồ Trị An, Biên Hòa rồi theo hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn ra biển.
Đứng trên một đảo giữa hồ Tà Đùng, khó hình dung rằng mặt nước lặng trước mặt là một khúc của con sông lớn nuôi cả vùng Đông Nam Bộ. Bài này kể lại hành trình của nước qua hồ: từ đâu đến, đi qua những gì, rồi về đâu, để thấy vì sao những việc nhỏ người ta làm trên hồ có ý nghĩa xa hơn cái hồ.
Nguồn nước từ cao nguyên Lâm Viên
Sông Đồng Nai được hình thành ở vùng cao nguyên phía nam Tây Nguyên. Hai dòng thượng nguồn thường được nhắc tới là sông Đa Nhim và sông Đa Dâng, bắt nguồn từ vùng núi quanh cao nguyên Lâm Viên, Đà Lạt. Sau khi hợp lưu, con sông mang tên Đồng Nai chảy theo hướng tây, tây nam, len giữa các dãy đồi núi, tạo thành ranh giới tự nhiên của nhiều vùng.
Trên đường đi, sông nhận thêm nước của rất nhiều sông suối nhỏ từ cả hai bờ. Khi tới vùng Tà Đùng, nó đã là một con sông lớn của miền núi, đủ để các công trình thủy điện được xây dựng ở đây.
Vì nguồn nước đến từ vùng cao nguyên rộng, lượng nước về hồ phụ thuộc vào mưa trên cả lưu vực, không chỉ mưa ở Tà Đùng. Có những ngày trời quang ở hồ nhưng nước vẫn lên vì mưa lớn ở thượng nguồn. Người làm nghề trên hồ hiểu điều này bằng kinh nghiệm; khách thì nên biết để không ngạc nhiên. Ngược lại, có những đợt mưa dầm ở Tà Đùng mà nước hồ lên rất chậm, vì phía thượng nguồn trời lại khô.
Những con suối đổ thẳng vào hồ
Ngoài dòng chính, hồ Tà Đùng còn nhận nước từ hàng loạt suối nhỏ chảy xuống từ các sườn đồi, sườn núi quanh hồ, trong đó có những suối xuất phát từ khu rừng Tà Đùng. Trước khi có hồ, các suối này đổ vào sông; nay chúng đổ vào hồ, và chỗ suối gặp hồ thường là đầu của một nhánh hồ dài.
Mùa mưa, nước suối đục màu đất đỏ đổ vào hồ, làm nước ở đầu các nhánh hồ đục hơn giữa hồ. Mùa khô, nhiều suối nhỏ gần như cạn, chỉ còn rỉ nước, và đầu nhánh hồ có khi lộ thành bãi bùn. Đi thuyền vào cuối các nhánh hồ mùa mưa, anh chị có thể nghe tiếng suối đổ ầm ầm từ trong rừng.
Những con suối này là lý do rừng quanh hồ quan trọng. Rừng giữ đất, giữ nước, để suối chảy đều và trong hơn. Ở những sườn đồi trơ trụi, mùa mưa đất bị cuốn xuống hồ, làm đục nước và lâu dần bồi lấp lòng hồ.
Qua nhà máy rồi tiếp tục xuống phía dưới
Nước hồ được dẫn qua nhà máy Đồng Nai 3 để phát điện, rồi trả lại vào dòng sông phía dưới. Từ đây sông Đồng Nai tiếp tục đi xuống, qua những công trình thủy điện khác ở hạ lưu. Cách các công trình nối nhau thành bậc trên dòng sông là một chủ đề riêng, được trang của xã Quảng Khê láng giềng viết kỹ hơn; ở đây chỉ cần biết hồ Tà Đùng là một trong những hồ lớn ở phía trên.
Đoạn sông phía dưới vẫn chảy qua vùng đồi núi, rồi dần ra vùng thấp hơn. Mỗi đoạn sông mang một gương mặt khác: có đoạn ghềnh thác, có đoạn hồ chứa, có đoạn chảy hiền qua rừng.
Với người đi chơi, khu vực nhà máy và phía hạ lưu đập là vùng có quy định riêng và có thể có dòng chảy thay đổi bất ngờ khi nhà máy vận hành. Không nên đi xuống bờ sông ngay dưới đập để câu cá hay tắm, dù nhìn mặt nước có vẻ hiền.
Qua rừng Cát Tiên và hồ Trị An
Xuống phía nam, sông Đồng Nai chảy qua vùng Vườn quốc gia Cát Tiên, một trong những khu rừng đặc dụng nổi tiếng của miền Nam. Ở đây sông rộng, chảy giữa rừng, là ranh giới và cũng là con đường vào rừng. Nước của hồ Tà Đùng ở phía trên góp phần vào dòng chảy qua khu rừng ấy.
Tiếp đó sông đổ vào hồ Trị An, một hồ thủy điện lớn và lâu đời hơn nhiều so với hồ Tà Đùng, là nguồn nước quan trọng cho vùng Đông Nam Bộ. Ra khỏi Trị An, sông Đồng Nai chảy về phía Biên Hòa, rồi hợp với sông Sài Gòn và các nhánh khác trước khi ra biển ở vùng cửa sông phía đông nam TP Hồ Chí Minh.
Hành trình dài này cho thấy hồ Tà Đùng nằm trên cùng một dòng chảy với nhiều vùng đông dân phía dưới. Người ở thành phố uống nước, dùng điện có phần đến từ hệ thống sông này. Khi lên Tà Đùng đi chơi, họ đang đứng gần đầu nguồn của chính dòng nước đó.
Hành trình của nước qua hồ, tóm gọn
Bảng dưới tóm tắt các chặng chính, chỉ nêu những nơi được biết rộng rãi, không ghi khoảng cách:
| Chặng | Nơi | Nước làm gì ở đó |
|---|---|---|
| Đầu nguồn | Vùng núi quanh cao nguyên Lâm Viên | Hình thành các dòng thượng nguồn như Đa Nhim, Đa Dâng |
| Đổ vào hồ | Dòng chính và các suối quanh Tà Đùng | Tích lại trong hồ chứa Đồng Nai 3 |
| Phát điện | Nhà máy Đồng Nai 3 | Chạy tua bin rồi trả về sông |
| Hạ lưu miền núi | Các công trình và đoạn sông phía dưới | Tiếp tục phát điện, chảy qua rừng |
| Qua rừng đặc dụng | Vùng Cát Tiên | Nuôi hệ sinh thái rừng ven sông |
| Hồ lớn hạ lưu | Hồ Trị An | Phát điện, cấp nước cho vùng Đông Nam Bộ |
| Ra biển | Qua Biên Hòa, hợp với sông Sài Gòn | Đổ ra biển qua vùng cửa sông |
Thứ tự trên là cách mô tả đơn giản; hệ thống sông Đồng Nai còn nhiều nhánh và công trình khác không ghi hết ở đây.
Vì sao người chơi trên hồ nên quan tâm
Biết hồ là một khúc của con sông lớn thay đổi cách nhìn những việc tưởng là nhỏ. Một vỏ chai nhựa ném xuống hồ không nằm yên ở góc vịnh; gặp mùa nước, nó có thể trôi theo dòng. Dầu máy rò từ thuyền, xà phòng rửa bát đổ xuống mép nước, thức ăn thừa đổ xuống hồ, tất cả hoà vào dòng nước chung.
Một hồ chứa lớn có khả năng tự làm sạch nhất định, nhưng không vô hạn. Khi khách đến đông, những thói quen nhỏ nhân lên hàng nghìn lần. Ở những hồ nổi tiếng sớm hơn, rác ven bờ và nước bẩn ở các vịnh kín là vấn đề có thật.
Vì vậy, những lời nhắc trong trang này như mang rác về, không rửa bát xuống hồ, không đổ dầu máy, không xả thải ở mép nước không chỉ để giữ cho cảnh đẹp. Chúng là cách người đứng ở đầu nguồn tôn trọng những người sống ở cuối nguồn.
Suối, sông và hồ trong đời sống người ven hồ
Với người ở quanh hồ, sông và suối là thứ gần gũi từ trước khi có hồ. Các thôn được lập gần nguồn nước, rẫy được trồng dọc theo các thung lũng có suối. Khi hồ hình thành, vị trí nguồn nước thay đổi, có thôn trở nên gần nước hơn, có thôn bị tách xa nhau bởi mặt hồ.
Đầu các nhánh hồ, nơi suối đổ vào, thường là chỗ người dân hay lui tới: lấy nước, đặt lờ bắt cá, tắm cho trâu bò. Đó cũng là chỗ khách đi thuyền hay muốn ghé vì cảnh rừng và tiếng suối. Ghé thì nhẹ nhàng, không chiếm chỗ, không làm đục nước người ta đang dùng.
Những chuyện về đời sống, ký ức của người dân với dòng sông trước khi có hồ được trang cộng đồng Tà Đùng kể kỹ hơn. Ở đây, chỉ cần nhớ rằng mỗi con suối nhỏ ven hồ đều có tên, có người dùng, và là một phần của hành trình dài của nước từ cao nguyên xuống biển.
Màu nước kể chuyện dòng chảy
Nhìn kỹ mặt hồ Tà Đùng, anh chị sẽ thấy màu nước không đều. Giữa hồ, nơi nước sâu và đã lắng, màu thường là xanh lục hoặc xanh thẫm. Ở đầu các nhánh hồ mùa mưa, nước có màu nâu đỏ của đất trôi từ suối xuống. Ở những vịnh kín ít gió, mặt nước có thể xanh đậm hơn vào những ngày nắng nóng.
Ranh giới giữa nước đục và nước trong đôi khi hiện rõ thành một đường trên mặt hồ, nhất là sau một trận mưa lớn. Đó là chỗ dòng nước suối mang đất gặp nước hồ đã lắng. Đi thuyền cắt qua ranh giới ấy, anh chị có thể nhìn thấy sự khác biệt ngay dưới mạn thuyền.
Màu nước cũng là một tín hiệu đơn giản về sức khoẻ của hồ. Nước đục kéo dài ở đầu nhánh có thể báo hiệu sườn đồi phía trên đang bị xói mòn mạnh; váng màu lạ ở vịnh kín có thể báo hiệu nước bị ô nhiễm. Người dân ven hồ thường để ý những thay đổi này trước tiên.
Dòng sông bị chặn và đời sống dưới nước
Một con đập lớn không chỉ giữ nước mà còn thay đổi đời sống của các loài sống trong sông. Một số loài cá sông có tập tính di chuyển theo dòng để sinh sản; khi dòng sông bị chặn, đường đi của chúng bị cắt. Một số loài quen nước chảy xiết khó thích nghi với nước đứng của hồ, trong khi những loài quen nước lặng lại phát triển.
Đây là điều xảy ra với hầu hết hồ chứa trên thế giới, không riêng hồ Tà Đùng. Hệ sinh thái dưới nước của hồ hôm nay là kết quả của sự thay đổi đó cộng với các loài được thả nuôi. Mục câu cá và cá hồ của trang này nói kỹ hơn về những loài thường gặp; ở đây chỉ nêu nguyên lý để thấy vì sao cá hồ khác cá sông ngày trước.
Hiểu điều này cũng giúp khách nhìn nghề cá ven hồ bằng con mắt khác. Người đánh bắt không chỉ lấy cá ra khỏi hồ; nhiều người còn tham gia thả giống, giữ vùng nước lặng cho cá sinh sản, phản đối đánh bắt tận diệt. Đó là cách người ven hồ giữ cho mặt nước còn nuôi được họ lâu dài.
Câu hỏi thường gặp
Hồ Tà Đùng nằm trên sông nào?
Hồ Tà Đùng nằm trên đoạn thượng nguồn sông Đồng Nai. Đây là hồ chứa của thủy điện Đồng Nai 3, hình thành khi đập chặn dòng sông ở vùng xã Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng hiện nay.
Sông Đồng Nai bắt nguồn từ đâu?
Sông Đồng Nai bắt nguồn từ vùng cao nguyên phía nam Tây Nguyên. Hai dòng thượng nguồn thường được nhắc tới là sông Đa Nhim và sông Đa Dâng, từ vùng núi quanh cao nguyên Lâm Viên, Đà Lạt.
Nước hồ Tà Đùng chảy về đâu?
Nước qua nhà máy Đồng Nai 3 rồi theo sông Đồng Nai xuống phía nam, qua vùng Cát Tiên, hồ Trị An, Biên Hòa, hợp với sông Sài Gòn và ra biển ở vùng cửa sông phía đông nam TP Hồ Chí Minh.
Vì sao trời không mưa mà nước hồ vẫn lên?
Vì lượng nước về hồ phụ thuộc vào mưa trên cả lưu vực phía trên, không chỉ mưa tại chỗ. Mưa lớn ở thượng nguồn có thể làm nước hồ lên dù ở Tà Đùng trời vẫn nắng.
Vì sao nước ở đầu các nhánh hồ đục hơn?
Vì đó là chỗ suối đổ vào hồ. Mùa mưa, nước suối mang theo đất đỏ từ sườn đồi, làm nước ở đầu nhánh đục hơn giữa hồ. Những sườn đồi mất rừng làm hiện tượng này rõ hơn.
Có nên tắm ở bờ sông ngay dưới đập thủy điện không?
Không nên. Khu vực phía hạ lưu đập có thể có dòng chảy thay đổi bất ngờ khi nhà máy vận hành hoặc xả nước, và là vùng có quy định bảo vệ công trình. Mặt nước trông hiền vẫn có thể nguy hiểm.