Câu bờ ở hồ Tà Đùng thành hay bại phần lớn nằm ở chỗ ngồi: chọn vịnh nhỏ khuất gió, khúc bờ thoải có cỏ ngập hoặc gốc cây chìm, thả câu ở chỗ đáy chuyển từ nông sang sâu, và ngồi trên đất chắc cách mép dốc một khoảng. Cá ở hồ chứa không đứng giữa vùng nước trống; chúng men theo bờ, theo mép sâu, theo chỗ có che chắn. Người biết đọc bờ thì câu cần rẻ vẫn có cá, người không biết thì cần tốt cũng ngồi không.
Bên mình tách riêng câu bờ thành một bài vì đây là kiểu câu phổ biến nhất của khách đến hồ: không cần thuê thuyền, đi cùng gia đình được, buổi sáng ra một chút rồi về ăn sáng. Phần dưới đi từ cách nhìn bờ, cách chọn kiểu câu, đến cách ngồi cho an toàn trên đất đỏ.
Đọc bờ trước khi đọc nước
Bờ hồ Tà Đùng là triền đồi cũ bị nước ngập. Nhìn độ dốc của bờ trên mặt đất, anh chị đoán được độ dốc dưới nước. Bờ thoải, cỏ mọc lan xuống nước thì đáy cũng thoải, có một dải nông rộng sát bờ; đây là chỗ cá nhỏ kiếm ăn, câu phao dễ. Bờ dốc đứng, đất lở trơ thì dưới nước sâu nhanh; ở đó anh chị phải thả câu xa hơn hoặc câu chìm sát chân dốc.
Dải đất đỏ trơ trụi giữa mặt nước và bờ cỏ là dấu vết mực nước. Dải càng rộng, nước càng đã rút nhiều. Mùa khô dải này lộ rõ, đáy cũ thành bãi đất nứt; mùa mưa nước ngập lên tới chân cỏ, có khi ngập cả bụi cây ven bờ. Khi nước mới lên, phần cỏ vừa ngập là bữa ăn mới cho cá, những ngày đó câu sát mép cỏ thường có hiệu quả.
Nhìn thêm những thứ trồi lên: ngọn cây khô nhô khỏi mặt nước, cọc gỗ cũ, gò đất. Dưới mỗi thứ đó là một cấu trúc chìm cá thích nằm. Nhưng đó cũng là chỗ mắc lưỡi; câu ở đó phải chấp nhận mất lưỡi, mất chì, và phải mang đủ dự phòng.
Cuối cùng là nhìn dấu người. Có lối mòn xuống bờ, có chỗ đất bị nện phẳng, có cành cây cắm làm gác cần, nghĩa là người địa phương hay câu ở đó. Đừng chiếm chỗ của họ nếu họ đang tới; hỏi một câu, có khi được chỉ thêm chỗ tốt.
Vịnh, mũi đất, đầu nhánh: mỗi chỗ một cách câu
Vịnh nhỏ khuất gió. Mặt nước phẳng, phao dễ nhìn, câu phao cần tay là hợp. Thả câu ở chỗ đáy bắt đầu sâu xuống, thường cách bờ chừng một hai đoạn cần. Rải ít mồi vừa phải để giữ cá, đừng rải nhiều làm cá no mà không ăn câu.
Mũi đất nhô ra. Gió đánh ngang, nước gợn, phao khó đọc. Câu lục chìm đáy bằng cần máy hợp hơn, quăng ra nhiều hướng để dò. Buổi sáng mũi đất thường đẹp; buổi chiều gió lên thì nên rút vào vịnh.
Đầu nhánh hồ. Nơi suối đổ vào, nước mát và có mồi trôi xuống. Mùa mưa nước đục vàng, cá theo nước mới lên rất gần. Mùa khô nhánh hồ có thể cạn thành bãi bùn, không còn chỗ câu. Đường vào đầu nhánh thường qua vườn nhà dân, phải xin phép.
Bờ có cây ngập. Bụi cây, ngọn cây ngập là chỗ trú của cá săn mồi và cá lớn. Câu sát mép bụi, chấp nhận mắc. Người quen hồ chứa thường dùng lưỡi rẻ, buộc dây trục yếu hơn dây chính để khi mắc chỉ mất đoạn cuối.
Câu phao hay câu lục: chọn theo bờ và theo gió
Câu phao là treo mồi lơ lửng hoặc chạm nhẹ đáy, nhìn phao để biết cá ăn. Kiểu này hợp vịnh lặng, bờ thoải, cá nhỏ và vừa. Cái khó ở hồ chứa là đo độ sâu: đáy không đều, phao chỉnh đúng ở chỗ này thì lệch ở chỗ cách đó vài mét. Mỗi lần dời chỗ, đo lại bằng cách thả chì chạm đáy rồi kéo phao lên cho đúng.
Câu lục là cho mồi nằm hẳn dưới đáy, thường dùng cần máy quăng xa, đặt cần lên gác rồi canh đầu cần hoặc chuông. Kiểu này hợp bờ dốc, mũi đất có gió, chỗ sâu, và hợp những con cá kiếm ăn sát đáy. Đánh đổi là anh chị không thấy cá rỉa mồi rõ như câu phao, và lưỡi dễ mắc vào gốc cây chìm.
Người đi chơi một buổi sáng có thể mang cả hai: một cần tay câu phao ở chỗ gần, một cần máy câu lục đặt xa hơn. Khi phao im lìm, nhìn cần lục; khi cần lục chết, chú ý phao. Nhưng đừng đặt quá nhiều cần nếu đi cùng gia đình, vì người lớn phải còn tay và mắt để canh trẻ.
Gió là yếu tố quyết định. Sáng lặng thì câu phao vui; chiều gió thì phao chạy theo sóng, khó đọc, lúc đó chuyển sang câu lục hoặc tìm chỗ khuất. Những buổi gió lớn, đừng cố giữ chỗ ngoài mũi đất: vừa câu kém, vừa nguy hiểm khi sóng đánh vào chân bờ.
Từng bước dựng một chỗ câu bờ
Dưới đây là trình tự gọn cho một chỗ câu bờ ở hồ Tà Đùng, làm trong khoảng mười lăm phút trước khi thả mồi đầu tiên.
- Đứng nhìn mép nước vài phút: độ dốc, cỏ ngập, cây chìm, gợn nước do cá.
- Chọn chỗ ngồi trên đất chắc, cách mép dốc một bước dài, không có vết nứt dưới chân.
- Cắm gác cần hoặc kê đá cho chắc; đặt thùng mồi, thùng đồ phía sau lưng, không bày ra mép nước.
- Đo độ sâu ở hai ba điểm để biết chỗ đáy chuyển từ nông sang sâu.
- Rải một nắm mồi nhỏ đúng chỗ định câu, rồi thả câu vào đó.
- Đặt túi rác ngay cạnh mình, mỗi đoạn dây cắt bỏ cho vào túi ngay.
- Ghi nhớ giờ về, đặt báo thức nếu cần, để không bị trời tối bắt gặp trên bờ.
Những bước này nghe chậm, nhưng chính phần chuẩn bị là thứ phân biệt người câu ở hồ chứa với người chỉ ra ngồi chơi. Sau vài buổi, anh chị sẽ làm chúng trong vô thức.
Đọc mặt nước theo giờ trong ngày
Mặt hồ Tà Đùng đổi tính trong ngày, và người câu bờ phải đổi theo. Sáng sớm, nước lặng, có sương mỏng; cá nhỏ thường lên sát bờ, đôi khi thấy vệt gợn tròn do cá đớp mồi trên mặt. Đây là lúc câu phao nhẹ, mồi nhỏ, thả gần mép cỏ. Đừng gây tiếng động lớn khi xuống bờ; nước lặng truyền tiếng bước chân và bóng người rất rõ.
Khi nắng lên, ánh nắng chiếu thẳng xuống vùng nông, cá lui ra chỗ sâu hơn hoặc vào bóng râm của bụi cây ngập, của bờ dốc. Người câu bờ lúc này nên chuyển sang khúc bờ có bóng đồi che, hoặc thả câu xa hơn, sâu hơn. Nếu không có chỗ như vậy gần nơi mình ở, nghỉ trưa là lựa chọn hợp lý.
Đầu giờ chiều trên hồ hay có gió. Mặt nước gợn thành vệt dài, sóng nhỏ vỗ vào bờ phía cuối gió. Bờ cuối gió có khi lại nhiều cá vì sóng đánh vụn mồi và đất ven bờ, nhưng cũng là bờ khó ngồi, dây bị gió thổi bạt. Bờ đầu gió thì lặng, câu phao dễ hơn. Người câu thường chọn tùy sức chịu gió của mình.
Chiều muộn, gió dịu dần, nắng xiên, cá lại vào bờ. Đây là khung giờ đẹp thứ hai trong ngày. Nhưng cũng là lúc phải canh giờ về; ở vùng đồi, bóng tối đến nhanh và đường lên bờ dốc cần đủ sáng.
Ngồi an toàn trên bờ đất đỏ
Đất đỏ bazan ở vùng này khi khô thì bở và rỗ, khi ướt thì trơn và nặng. Mép bờ hồ chứa còn bị sóng và nước lên xuống gặm chân, tạo thành những hàm ếch ẩn phía dưới. Anh chị đứng trên mép trông chắc, nhưng bên dưới có thể đã rỗng. Nguyên tắc là ngồi lùi lại, để cần làm phần vươn ra, không phải người vươn ra.
Mùa mưa, tránh những đoạn bờ vừa sạt, có vết nứt chạy song song mép nước, hoặc có cây nghiêng dần ra hồ. Sau cơn mưa to, đợi đất ráo bớt rồi mới xuống. Mang giày đế bám, không đi dép tông trên dốc.
Nếu chỗ câu sát nước sâu, mặc áo phao. Nhiều người câu thấy mặc áo phao trên bờ là quá cẩn thận, nhưng hồ thủy điện sâu ngay sát mép, nước lạnh, và người rơi xuống thường là do trượt chân bất ngờ, không kịp chuẩn bị. Áo phao loại gọn, mặc cả buổi vẫn thoải mái, là món đáng mang.
Mang đèn đội đầu dù định về sớm. Trên vùng đồi, trời sập tối rất nhanh sau khi mặt trời khuất sau dãy đồi phía tây. Đường mòn từ bờ lên thường dốc, gốc cây và rễ lồi lên, đi bằng đèn điện thoại vừa tốn pin vừa dễ trượt.
Giữ bờ sạch cho người câu sau
Một chỗ câu đẹp là chỗ mà người đến sau không biết đã có người ngồi trước. Mang về mọi thứ mình mang ra: vỏ hộp mồi, túi ni lông, chai nước, dây cước, lưỡi hỏng, chì rơi. Dây cước là thứ nguy hiểm nhất vì gần như không phân hủy, lại vô hình trong cỏ; chim, rắn nước, gia súc của người dân đều có thể vướng vào.
Không chặt cây ven bờ làm gác cần, không phát quang bụi cây để ngồi cho thoáng. Bụi cây ven bờ giữ đất, chống sạt, là chỗ trú của cá và chim. Gác cần thì mang theo loại gấp được, hoặc dùng cành khô sẵn có rồi trả lại chỗ cũ.
Không rải mồi quá tay. Mồi thừa chìm xuống đáy, thối rữa, làm đục nước khu vịnh nhỏ. Vịnh kín gió vốn ít trao đổi nước, mấy chục người rải mồi mỗi cuối tuần là đủ làm nước kém đi. Rải ít, rải đúng chỗ, câu bằng kỹ năng chứ không bằng bao cám.
Nếu thấy rác cũ của ai đó để lại, nhặt thêm một ít bỏ vào túi mình. Người dân ven hồ nhớ rất lâu những người khách để bờ sạch hơn lúc đến.
Thêm một chuyện nhỏ về tiếng ồn. Vùng hồ Tà Đùng được người ta tìm đến vì sự yên: tiếng chim trên đảo, tiếng mái chèo, tiếng gió qua rừng. Loa bluetooth mở to bên bờ hồ không chỉ làm phiền người ở gần, mà tiếng vang trên mặt nước đi rất xa, tới tận nhà ven bờ bên kia. Người câu giỏi thường là người im lặng nhất; cá cũng nhạy với tiếng động và rung chấn trên bờ hơn anh chị nghĩ. Giữ yên lặng vừa là phép lịch sự, vừa là mẹo câu.
Câu hỏi thường gặp
Câu bờ ở hồ Tà Đùng nên dùng cần dài bao nhiêu?
Không có con số cố định. Ở vịnh nông, cần tay vừa phải là đủ. Ở bờ dốc, mũi đất, cần dài hơn hoặc cần máy giúp đưa mồi ra chỗ sâu. Người mới nên bắt đầu với cần tay cỡ trung bình rồi điều chỉnh theo chỗ ngồi quen.
Làm sao biết chỗ nào trong hồ có cá?
Nhìn mép cỏ ngập, gốc cây chìm, đầu nhánh có suối đổ vào, chỗ đáy chuyển từ nông sang sâu và chỗ có bọt tăm nổi lên. Hỏi thêm người địa phương. Thả câu nửa giờ không có động tĩnh thì dời chỗ, đừng ngồi lì cả buổi.
Mắc lưỡi vào gốc cây chìm thì xử lý thế nào?
Đừng giật mạnh. Đổi góc kéo bằng cách đi dọc bờ một đoạn rồi kéo nhẹ; nếu không ra, quấn dây vào tay có khăn che, kéo thẳng để dây đứt ở chỗ yếu. Buộc dây trục yếu hơn dây chính để khi mắc chỉ mất lưỡi.
Câu bờ buổi nào trong ngày tốt nhất?
Sáng sớm khi hồ lặng và chiều muộn khi nắng dịu thường cá ăn nhiều hơn. Buổi trưa nắng gắt cá ven bờ ăn thưa. Buổi chiều nên để ý gió và mây giông, rút sớm nếu trời đổi.
Có nên câu bờ cùng trẻ nhỏ không?
Được, nếu chọn vịnh thoải, khuất gió, bờ chắc, trẻ mặc áo phao và có một người lớn chỉ lo canh trẻ. Cho trẻ cầm cần ngắn, lưỡi không ngạnh hoặc bóp ngạnh để tránh móc vào tay.
Mùa khô bờ hồ lộ đất nhiều, câu ở đâu?
Khi nước rút, dải đất đỏ lộ ra và cá lui xa hơn. Anh chị phải đi xuống gần mép nước mới, chú ý đất bùn lún, hoặc dùng cần máy quăng xa. Những vịnh sâu và chân đảo vẫn giữ nước tốt hơn bãi thoải.